Tôi nghe danh ông đã ngót chục năm, người đã dành nhiều thời kì để sưu tầm những pho sách cổ viết bằng chữ Thái trên những tờ giấy dó, hay những cuốn sách màu thời kì đã nhuộm đen trên những trang giấy đã rách nát không còn nhìn rõ chữ, hoặc ông đi lang thang khắp các thôn bản sưu tầm những câu dân ca, điệu múa, những bài cúng bản, cúng ma... Rồi biên chép dịch ra thành sách. Ông quá ngạc nhiên với những gì mà người xưa đã ghi lại trong những trang sách cổ diễn đạt cuộc thiên di của dân tộc Thái đen từ Xíp Xoong Ba Na (Vân Nam- Trung Quốc) theo sông Hồng xuống miền núi phía Bắc Việt Nam rồi ngược suối Thia vào Mường Lò (Yên Bái) định cư trước khi tỏa đi khắp nơi. Cho nên, người Thái đen coi Mường Lò là đất tổ của mình (đin pẩu pú, hoặc Bản pẩu mương pú).
Lo ngại sự mai một về chữ viết của người Thái đã được sáng tạo từ ngàn năm trước do tổ tiên để lại ông đã bỏ thời gian, công sức và tiền nong mở lớp dạy chữ Thái ngay tại ngôi nhà của mình cho con cháu và những ai yêu mến chữ Thái. Điều kỳ lạ, không chỉ người Thái nhiều dân tộc khác sinh sống trên cánh đồng Mường Lò đã xin được làm học sinh của ông. Đặc biệt hơn, trong số gần hai trăm học trò của ông có hai sinh viên người Nhật, một người Pháp và một người Thái Lan, họ muốn tìm hiểu và khám phá chữ Thái cổ nên đã lặn lội hàng ngàn cây số đến nhà ông để ông dạy cho cách đọc và viết chữ Thái. Mặc dầu đã từng đọc một số bài viết về ông trên một số báo, ấn tượng trước tiên của tôi về ông là mái tóc dài chấm vai cùng bộ râu bạc trắng như cước trên bộ mặt khá đẹp lão mà thời trai trẻ chắc đã làm xiêu biết bao cô gái?
Ông sống trong ngôi nhà sàn bình dị như bao ngôi nhà sàn của người Thái trên cánh đồng Mường Lò. Nhà ông ở cuối bản Cang Nà, thuộc phường Trung tâm thị xã Nghĩa Lộ, dù đã được báo trước, nhưng khi tôi đến ông vẫn vận quần cộc đang băm rau cho lũ ngan vịt đói kêu quàng quoạc dưới gầm sàn.
Ông Lò Văn Biến kể lap dat camera quan sat tai ha noi lại chuyện cuộc đời của mình rằng: Tôi sinh ra và lớn lên ở đất Mường Lò, thời Pháp học hết tiểu học, sau khi Nghĩa Lộ được giải phóng tháng 10/1952, tôi dự dạy bình dân học vụ từ năm 1953 đến 1954. Tháng 2/1955 trên cử tôi đi học sơ cấp Sư phạm đặt tại Khu Tự trị Thái Mèo, năm 1956 hoá ra trường, tổ chức điều tôi về Than Uyên (nay thuộc tỉnh Lai Châu) dạy học. Khi đó cả Than Uyên chỉ có ba tía, tôi dạy ở xã Mường Than. Hồi ấy dạy song ngữ, chữ Thái và chữ quốc ngữ. Đến năm 1963 thì tạm dừng dạy chữ Thái, tôi được điều về Mường Lò dạy học, dạy được mấy năm do phải dạy xa nhà, gia đình gặp rất nhiều khó khăn nên tôi bỏ dạy về làm ruộng... Ông Biến lặng im nhìn đăm đắm ra cánh đồng trước nhà: Mấy chục năm rồi chữ Thái không được giảng dạy đang dần bị mai một. Những người biết chữ Thái đều đã cao niên, lớp trẻ thì không được dạy, mai ngày chúng tôi mất đi đem theo gia tư của ông cha xuống mồ, nghĩ thế mà xót xa. Năm 2002 tôi quyết định mở lớp dạy chữ Thái cho các cháu trong thôn bản, mới đầu chỉ 3-4 người học, sau lên 10 người... Số người đến đăng ký học ngày càng đông, năm 2006 tôi soạn thành giáo trình 100 tiết dạy cho những ai yêu quý chữ Thái. Khi nghe tin ông Lò Văn Biến dạy chữ Thái cổ hai sinh viên người Nhật tên là Ha ki ga Na - ma - sao và Ô - ka - đa - Ma - sa - si từ Hà Nội lên tận Mường Lò để học lap dat camera gia re tai ha noi chữ Thái, rồi Du Tỷ, người Thái Lan và tiến sĩ người Pháp tên là Răc - đơ - mon cũng xin được làm học trò của ông. Từ đó đến nay ông đã mở được 7 lớp, với 177 học viên, trong số đó có nhiều người là cán bộ lãnh đạo của TX. Nghĩa Lộ. Giáo trình dạy chữ Thái cổ của ông Biến đã được ngành chức năng thẩm định, học viên sau khi học xong được Trung tâm Giáo dục thẳng tính tỉnh Yên Bái tổ chức thi và cấp bằng tốt nghiệp. Hiện có 7 tỉnh dạy chữ Thái theo giáo trình do ông soạn, có 19 nguyên âm và 19 cặp phụ âm. Tháng 7/2006, trọng điểm Vì sự phát triển bền vững miền núi tổ chức hội nghị tại Mai Châu (Hòa Bình) bàn việc bảo tàng và phát triển chữ Thái đã mời các trí thức bản địa dự hội thảo. Một câu hỏi đặt ra: Chữ Thái nhập cảng vào Việt Nam từ khi nào? Có nhà nghiên cứu cho rằng chữ Thái có từ thế kỷ XI, ông Biến phản bác lại rằng: Chữ Thái lap dat camera quan sat re nhat ha noi có trước thế kỷ thứ IX, với hai lý do: Lý do thứ nhất, thế kỷ XI người Thái từ Vân Nam sang Việt Nam đã có chữ rồi. Lý do thứ hai, thế kỷ thứ IX ông Khun Bó Rôm là người trước hết dẫn dắt một bộ tộc người Thái sang Điện Biên sinh sống. Như vậy, chữ Thái phải có trước khi người Thái du nhập vào Việt Nam. Ý kiến của ông được các nhà nghiên cứu xác nhận trong hội nghị tổ chức tại Hà Đông năm 2008. Ông Biến kể lại rằng: Năm 2008 hay 2009 gì đó ông Đào Văn Xuyền, Phó chủ toạ Hội Người cao tuổi tỉnh Phú Thọ (điều này ông Biến nhớ mang máng như vậy) dẫn ông lên thăm bãi đá cổ Sa Pa, tại đây có một phiến đá khắc 19 chữ cổ, ông đã đọc được 16 chữ còn 3 chữ ông không đọc được, có thể người xưa viết quá ngoáy. Như vậy, chủ nhân của những hình khắc trên bãi đá cổ Sa Pa phải chăng là người Thái? Nếu đúng như vậy, thì con cháu của những cư dân Thái đó hiện ở đâu? Đó là những câu hỏi không dễ dàng được đáp.
Không chỉ yêu chữ Thái cổ, ông Lò Văn Biến còn là người ham mê sưu tầm và dịch sách cổ viết bằng chữ Thái. Ông không nhớ hết mình đã sưu tầm và dịch bao nhiêu quyển sách, trong đó có cuốn: Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng, Tìm hiểu tục cúng vía dân tộc Thái đen Mường Lò, Cúng mường, cúng bản, Lễ hội Hạn Khuống, Cúng người chết về Mường trời (Xống phi tai), Cúng vía trâu (Tam khuôn quai)... Đó là những giá trị văn hóa, báu vật linh của dân tộc Thái đen. Thông điệp của người xưa được ghi trong sách cúng cũng như được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác: Mường Lò là đất tổ của người Thái đen ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Hàng năm, nhiều người Thái đen ở Mỹ, Thái Lan, Lào... Đã tới Mường Lò thăm quê cha đất tổ (đin pẩu pú) của người Thái đen, thăm thác Nặm Tốc Tát, nơi người Thái đen khi băng hà vong hồn đều tới đó tắm rửa trước khi ngược theo dòng thác lên Mường Trời. Trong sách cúng “Xống phi tai” có câu: “Cai hẳn lẹo mưa họt Nặm Tôk Tat phi pãy/ Phi cái đay cái cãu mữa Phạ”, tức là: hồn người chết theo thác Nặm lap dat camera quan sat gia re Tôốc Tát lên với Mường Trời (mữa Phạ).
|
Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013
Một trí thức của người Thái đen Tây Bắc
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
0 nhận xét:
Đăng nhận xét